NHỮNG CỘT MỐC LỊCH SỬ KHẲNG ĐỊNH ĐẲNG CẤP CỦA BST ĐỒNG HỒ OMEGA SPEEDMASTER

Có thể nói, Speedmaster là một trong những BST đồng hồ đẳng cấp nhất đã tạo nên thương hiệu đình đám cho Omega trong suốt hành trình hoạt động trong lĩnh vực đo đếm thời gian.

 

 

 

https://casiovietnam.net/dong-ho-nam-casio-g-shock-gr-b100-1a2vdf-day-nhua-ket-noi-dien-thoai-pin-nang-luong-mat-troi

https://casiovietnam.net/dong-ho-casio-sheen-she-4051pgl-7avdf-day-da-that-mau-trang-vien-ma-vang-hong

https://casiovietnam.net/dong-ho-nua-casio-sheen-she-4051pg-4avdf-day-deo-kim-loai-ma-vang-vien-mat-dinh-da-pha-le-swarovski

 

 

 

Những cột mốc lịch sử khẳng định đẳng cấp của BST đồng hồ Omega Speedmaster

OMEGA Speedmaster bao gồm những phiên bản sở hữu chức năng chronograph nổi tiếng nhất. Không thể phủ nhận chỗ đứng của bộ sưu tập này trong ngàng công nghiệp đồng hồ. Được lựa bởi nhiều phi hành gia vũ trụ, kiểm định bởi NASA và thâm chí du hành lên mặt trăng – Speedmaster sở hữu những đặc quyền mà không mẫu đồng hồ nào khác có được.

Mọi thứ bắt đầu vào năm 1957, khi OMEGA giới thiệu dòng đồng hồ “Professional” bao gồm Seamaster 300, Railmaster và chiếc Speedmaster đầu tiên. Không chỉ được sử dụng cho những chuyến du hành không gian, Speedmaster còn được sử dụng cho những nhu cầu ngay trên trái đất  – đo vận tốc. Chiếc Speedmaster đầu tiên CKv2915, được sản xuất dành cho những ai mê bộ môn thể thao đua xe ô tô/xe máy phân khối lớn. Thước đo vận tốc Tachymeter lần đầu tiên được thiết kế trên niềng và trở thành đặc điểm nhận dạng của dòng đồng hồ. Được vận hành bởi bộ máy lên giây Calibre 321, Speedmaster được thiết với kiểu dáng đối xứng cùng kim chỉ giờ “Broad Arrow” và nhanh chóng trở thành sản phẩm được săn đón nhiều nhất.

Năm 1959 chứng kiến sự ra đời của mẫu Speedmaster CK2998. Giữ kiểu dáng đối xứng và bộ máy calibre 321, bộ kim được cách tân với phong cách “Alpha”. Thước đo Tachymeter được chế tác từ chất liệu nhôm đen và được giữ đến ngày nay. CK 2998 được chọn bởi 2 du hành gia Water “Wally” M. Schirra, và Leroy G. “Gordo” Cooper trong chuyến đi đến Sao Thủy của mình vào năm 1962. Chiếc đồng hồ này được đeo trong sứ mệnh Mercury-Atlas 8 của Schirra và trở thành chiếc đồng hồ OMEGA Speedmaster đầu tiên được lên vũ trụ, 2 năm trước khi NASA kiểm định và chính thức công nhận Speedmaster là mẫu đồng hồ phục vụ cho các chuyến du hành.

Được giới thiệu vào năm 1963, và vận hành bởi bộ máy lên giây Calibre 321, ST 105.003 trở là mẫu đồng hồ chính thức được gửi đến và kiểm định bởi NASA. Để đáp ứng nhu cầu về một mẫu đồng hồ chronograph đeo tay vào tháng 10 năm 1964, Chi nhánh OMEGA tại bắc Mỹ đã gửi đến NASA mẫu đồng hồ Speedmaster ST 105.003, mặc dù không có thông tin chính xác về mẫu đồng hồ yêu cầu cũng như thông báo cho văn phòng chính của OMEGA tại Biel, Thụy Sỹ. Mẫu đồng hồ này, cùng với những mẫu của những thương hiệu khác được kiểm tra kĩ càng trong hàng loạt bài kiểm tra và là những thử thách nặng nề nhất mà một chiếc đồng hồ phải trải qua. Tự hào là chiếc đồng hồ duy nhất không bị “chấn thương” nặng nề sau hàng loạt bà kiểm định, NASA tuyên bố OMEGA Speedmaster là dụng cụ chính thức phục vụ cho các dự án không gian. Sau tuyên bố của mình, OMEGA đã trang bị cho những du hành viên của mình đồng hồ Speedmaster như một phần trang phục. Mẫu đồng hồ này càng gây được chú ý khi Edward White đeo ra ngoài tàu vũ trụ và trở thành người Mỹ đầu tiên đi trên không trung.

Trong khi văn phòng chính của OMEGA không được thông báo về quá trình kiểm định của NASA, mẫu Speedmaster trên thế giới vẫn không ngừng phát triển. Nhằm bảo vệ nút chỉnh giờ và nút bấm chronograph, OMEGA đã thay đổi một chút diện mạo của vỏ đồng hồ bằng thiết kế dầy hơn ở bên phải đồng hồ. Kiểu dáng “đối xứng” này đã trở thành một điểm nhận diện của dòng Speedmaster trên toàn thế giới. Được giới thiệu ở một số thị trường vào năm 1964, ST 105.012 hiện thị “Professional” trên mặt số như một thành viên thuộc dòng đồng hồ OMEGA “Professional”. Vận hành bởi bộ máy calibre 321, mẫu đồng hồ này được cải tiến vào năm 1967 với cái tên mới ST 145.012 với một số điều chỉnh trong việc gắn nút bấm chronograph với vỏ chronograph. Đây cũng là mẫu đồng hồ cuối cùng sử dụng bộ máy calibre 321 (Bộ máy hoạt động chính xác sau 6 lần đáp lên mặt trăng bao gồm lần đáp cuối cùng trên con tàu Apollo 17).

Vào năm 1968, 1 năm trước khi Neil Amstrong và Buzz Aldrin đặt chân lên mặt trăng, OMEGA giới thiệu một mẫu mang tính chất cách mạng trong sự phát triển của dòng Speedmaster. Bộ máy mới mang tên calibre 861 lần đầu tiên được áp dụng cho phiên bản ST 145.022. Bộ máy lên giây mới này thể hiện nhiều điểm độc đáo trong thiết kế cũng như sự tân tiến của OMEGA trong quá trình phát triển công nghệ. Bộ máy đặc biệt này còn được sử dụng trong các mẫu Moonwatch đến tận ngày nay.

OMEGA Speedmaster “Mark II” là mẫu đồng hồ đầu tiên mang một diện mạo mới so với mẫu Moonwatch, giới thiệu thế hệ thứ 2 của dòng Speedmaster. Ra đời vào năm 1969, cái tên “Mark II” tượng trưng cho thế hệ thứ 2 thuộc dòng đồng hồ lên giây Speedmaster. Mang một kiểu dáng khác biệt (vỏ thép cùng mặt số đen, vỏ thép cùng mặt số cam xám, etc) và vận hành bởi bộ máy calibre 861, hình dáng vỏ  của “Mark II” còn được gọi với cái tên “Pilot’s Line” liên quan đến một dự án bí mật mà OMEGA tham gia. OMEGA cải tiến mẫu đồng hồ của mình để hoạt động bền bỉ hơn trên mặt trăng. Dự án diễn ra hơn 10 năm và mang tên “Alaska” thể hiện qua lớp vỏ bo tròn cùng tai niềng được thiết kế đặc biệt nhằm bảo vệ nút chỉnh giở và nút chỉnh chronograph.

Những cột mốc lịch sử khẳng định đẳng cấp của BST đồng hồ Omega Speedmaster

Speedmaster 125 được giới thiệu vào năm 1973 đẻ kỉ niệm “sinh nhật” thứ 125 của thương hiệu OMEGA. Con số 125 được thể hiện trên mặt số đen của đồng hồ. Được vận hành bởi bộ máy calibre 1041, bộ máy tự động chronograph đầu tiên được chứng nhận Chronometer về độ chính xác. Được sản xuất với số lượng giới hạn 2,000 chiếc, mẫu đồng hồ này được giới hâm mộ quan tâm và tìm kiếm.

Lấy tên từ một dự án bí mật của NASA, phát triển phương tiện di chuyển trên vũ trụ, “X-33” thể hiện những thành tựu của thương hiệu. Được thiết kế và kiểm định qua nhiều bài kiểm tra nghiêm ngặt trong một khoang thời gian dài. Mẫu đồng hồ này được đeo bởi phi hành trong dự án phát triển phương tiện di chuyển không gian, trong trạm không gian Nga “Mir” và trạm không gian Quốc tế. Được phát triển dựa trên những góp ý từ du hành gia và phi công, mẫu “X-33” đầu tiên được giới thiệu đến công chúng vào năm 1998 và được truyền hình trực tiếp từ phi hành đoàn trên trạm Mir của Nga giao tiếp trực tiếp với trạm điều khiển tại Houston.

Vào năm 2013, OMEGA giới thiệu phiên bản Speedmaster 57 OMEGA Co-Axial Chronograph với những thiết kế tôn vinh phiên bản đời đầu. Speedmaster ’57 được vận hành bởi OMEGA Co-Axial calibre 9300/9301 – bộ máy chronograph tự sản xuất đầu tiên của OMEGA. Đồng hồ phụ chronograph hiện thị kim chỉ phút và giờ nằm ở vị trí cọc số 3 giờ. Cách thiết kế này giúp người dùng dễ dàng hơn trong việc xem giờ và sử dụng. Bộ máy hoạt động chính xác của phiên bản đồng hồ này được hỗ trợ bởi bộ phân cân bằng silicon cùng cơ cấu đồng trục Co-Axial. Phiên bản đặc biệt này được bảo hành 4 năm trên toàn thế giới.

Những cột mốc lịch sử khẳng định đẳng cấp của BST đồng hồ Omega Speedmaster

Những phi hành gia tàu Apollo 8 là những người đàu tiên nhìn thấy phần tối của mặt trăng bằng mắt thương. Với đồng hồ Speedmaster Moonwatch được sử dụng, OMEGA đã giới thiệu phiên bản Speedmaster “Dark Side of the Moon”, với sự kết hợp của chất liệu gốm ceramic đen cùng bộ máy Co-Axial calibre 9300/9301. Phiên bản đồng hồ tôn vinh 9 sứ mênh Apollo trong việc đưa con người lên mặt trăng và quay trở lại trái đất.

Mẫu đồng hồ chronograph này được thiết kế với mặt số ceramic, nổi bật với lớp vỏ ceramic kích thước 44.25mm cùng cọc số làm từ chất liệu vàng trắng 18K. Ngoài ra, phiên bản đặt biệt này hiển thị 2 đồng hồ phụ vị trsi 3 và 9 giờ. Speedmaster “Dark Side of the Moon” được đeo với dây da bọc vải dù cùng khóa ceramic. Mẫu đồng hồ này chịu được áp suất nước ở độ sâu 50m.

Đến cuối năm 2016, Omega tiếp tục bổ sung vào bộ sưu tập Speedmaster của mình phiên bản  PLANET OCEAN DEEP BLACK biểu tượng cho đại dương sâu thẳm. Phiên bản này có khả năng chịu áp suất ở độ sâu tới 600 mét nhờ vào lớp vỏ bằng gốm Ceramic kèm công nghệ  GMT và công cụ đi lặn chuyện nghiệp.

Omega PLANET OCEAN DEEP BLACK

Phiên bản này còn có điều đặc biệt đó là khả năng biến đổi màu độc đáo. Khi bạn lặn xuống biển với độ sâu 5m, đỏ là màu đầu tiên bị biến mất. Dưới độ sâu 275m, màu cuối cùng được nhìn thấy là màu xanh dương. Cuối cùng, ở độ sâu 300m, đáy biển sẽ hoàn toàn trở về màu đen.

Related Posts

About The Author

Loading Facebook Comments ...